Nhạc sĩ Thanh Sơn.
Nhạc sĩ Thanh Sơn.

– Ông có thể kể đôi chút về mình?
– Tôi tên thật là Lê Văn Thiện, sinh năm 1938 tại Sóc Trăng. Từ hồi còn học tiểu học đã ưa thích ca hát, tuy nhiên vì gia đình che giấu cán bộ Việt Minh nên bị ruồng bỏ gắt gao, phải nay đây mai đó. Năm 19 tuổi, tôi phải đi ở đợ, lau nhà, giăng mùng, trải chiếu cho người khác…
– Sự kiện nào đã giúp ông đổi đời?
– Tuy phải đi làm thuê, làm mướn như vậy nhưng tôi vẫn rất thích ca hát. Dạo đó, Đài Phát thanh Sài Gòn vẫn tổ chức các cuộc thi tuyển lựa ca sĩ hàng năm. Tôi liều mạng đi thi, ai ngờ đoạt giải nhất (năm 1959). Tôi nhớ Ban giám khảo gồm các nhạc sĩ Dương Thiệu Tước, Võ Đức Thu, Nghiêm Phú Phi – Chánh chủ khảo là nhạc sĩ Thẩm Oánh. Tôi đổi nghề từ đó để đi hát trong ban nhạc Tiếng tơ đồng của nhạc sĩ Hoàng Trọng.
– Từ Thanh Sơn ca sĩ sang Thanh Sơn nhạc sĩ như thế nào?
– Về sáng tác thì tôi tự học, từ cuốn Để sáng tác một ca khúc phổ thông của Hoàng Thi Thơ, tôi mày mò sáng tác, được bài nào thì nhờ các ca sĩ đàn anh Hoàng Trọng, Nguyễn Hiền, Văn Phụng… xem xét, chỉnh lý lại giùm.
– Tại sao ông thích khai thác mảng mùa hè – học sinh?
– Do không được học hành tới nơi, tới chốn nên tôi luôn nuối tiếc, hoài niệm tuổi học trò. Bản nhạc đầu tay của tôi là Tình học sinh (1962) chẳng được một ai lưu ý. Sang năm 1963, tôi viết Nỗi buồn hoa phượng, đi đâu cũng nghe người ta hát. Hứng chí, tôi viết một loạt bài về đề tài này trong nhiều năm: Ba tháng tạ từ, Màu áo hoa phượng, Lưu bút ngày xanh, Hạ buồn, Ve sầu mùa phượng… Ngoài đề tài học sinh, tôi còn sáng tác những nhạc phẩm trữ tình khác như Nhật ký đời tôi, Trả lại thời gian, Mùa hoa anh đào…
– Những ca khúc ông viết sau ngày đất nước thống nhất thường mang âm hưởng nhạc đồng quê – dân ca Nam Bộ. Tại sao có sự chuyển hướng này?
– Quê gốc của tôi là Sóc Trăng, những câu hát điệu hò vùng sông nước đồng bằng sông Cửu Long đã thấm vào hồn tôi từ thuở thơ ấu nên trong tôi luôn tiềm ẩn những giai điệu đậm chất dân ca Nam Bộ. Tôi khởi sự sáng tác trở lại vào đầu thập niên 90, được công chúng đón nhận. Điều này gợi mở cho tôi hướng sáng tác là tiếp tục khai thác chất liệu dân ca Nam Bộ. Tôi chú trọng về ca từ, cố gắng đưa vào bài những âm sắc, phương ngữ đặc trưng của Nam Bộ.
– Công việc hiện nay của ông ra sao?
– Số tác phẩm tôi viết sau này nhiều gấp bội trước kia. Mười năm nay tôi phụ trách biên tập chương trình cho Trung tâm Băng nhạc Rạng Đông. Cuộc sống nói chung là không có gì là tiếc, nhưng phải chi lúc này tôi đang ở độ tuổi 30 để tha hồ mà sáng tác thì tốt biết mấy.
(Theo Thanh Niên)

1gom